Phương Trình Hoá Học

Amoni nitrat (AN) là gì?

Amoni nitrat hay còn gọi ammonium nitrate là một hợp chất hóa học, có công thức hóa học là NH4NO3, là một tinh thể màu trắng và hòa tan cao trong nước trong nhiệt độ bình thường và áp suất tiêu chuẩn. Nó thường được dùng trong nông nghiệp làm phân bón và cũng được sử dụng làm chất ôxi hóa trong thuốc nổ phục vụ mục đích khai thác đá và xây dựng dân dụng, phổ biến nhất là dùng làm thiết bị nổ tự tạo.

Tìm kiếm khái niệm hóa học

Hãy nhập vào khái niệm bất kỳ để bắt đầu tìm kiếm

1. Lịch sử và nguồn gốc

Amoni nitrat (AN) là một trong những hợp chất phổ biến nhất và quan trọng nhất về mặt thương mại kể từ khi được phát hiện vào thế kỷ XVII (1659). Lượng AN được sản xuất và sử dụng nhiều chủ yếu là do nó là thành phần chính trong phân bón (đạm 2 lá) và vật liệu nổ công nghiệp.

Trong vai trò là phân bón, AN cung cấp Nitro ở cả dạng NH3 và ion nitrat. Đối với vai trò là chất nổ, AN hoạt động như là một chất oxy hóa cung cấp một nguồn oxy rẻ trong thuốc nổ để kết hợp với nhiên liệu và giải phóng năng lượng. 

Vụ nổ AN kinh hoàng tại Beirut - Lebanon

AN là một trong những chất nổ mạnh gây ra các vụ nổ có cường độ nghiêm trọng. Những vụ tai nạn nổi tiếng và được nhiều người biết đến là các vụ tai nạn ở Upper Silesia (1921); Oppau, Germany (1921), Brest, France (1947), Texas City, USA (1947). Toulose, France (2001),... Mới đây nhất là vụ nổ thảm khốc ở thủ đô Beirut hôm 4/6/2020 do tia lửa hàn trong quá trình sửa chữa nhà kho nhiều khả năng đã làm cháy 2750 tấn amoni nitrat cất trữ tại đây suốt 6 năm qua, gây ra tiếng nổ cực lớn,phá hủy nhiều nhà cửa ở Beirut - Lebanon khiến ít nhất 100 người thiệt mạng.

Amoni nitrat (AN)

2. Tính chất vật lý và hóa học

a. Một số thông tin cơ bản về tính chất vật lí

AN là một chất rắn màu trắng, hút ẩm ở dạng tinh thể tại nhiệt độ phòng và áp suất tiêu chuẩn, tan nhiều trong nước, điểm nóng chảy (MP) khoảng 169,6oC, tỷ khối là 1,73 g/cm3; điểm sôi khoảng 210oC, phân hủy khoảng 230oC, tan chảy trên 325oC.

Tính chất vật lý của AN

b. Tính chất hóa học

Khi bị giam giữ và nung nóng, AN có thể phát nổ vượt quá 260oC tùy thuộc vào tốc độ gia nhiệt. Hóa học phân hủy của bất kỳ chất nào là chìa khóa cho hành vi gây nổ của nó và do đó, AN đã được nghiên cứu và công bố rộng rãi. Khi phân tích dữ liệu thí nghiệm, người ta cần chú ý đến các yếu tố cơ bản như tốc độ gia nhiệt, áp suất và độ tinh khiết vì những yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến kết quả. Mặc dù, một số con đường phản ứng được đề xuất, không có cơ chế đơn lẻ nào hiện có thể giải thích tất cả các khía cạnh của sự phân hủy AN. Vẫn có một mức độ chấp nhận cơ chế phản ứng cụ thể ở một nhiệt độ cụ thể. Với mục đích hiểu được tính hữu ích và các nguy cơ liên quan đến việc sử dụng AN trong chất nổ AN, đặc biết là ANFO (ANFO (hoặc AN / FO , đối với amoni nitrat / dầu nhiên liệu ) là một chất nổ công nghiệp số lượng lớn được sử dụng rộng rãi.), sẽ đủ để biết rằng tốc độ nung nóng và giam giữ là hai thông số rất quan trọng ảnh hưởng đến quá trình phân hủy và tạo thành sản phẩm cuối cùng trong sự phân hủy AN. Có ý kiến cho rằng trong khi tốc độ gia nhiệt cao khuyến khích sự phân hủy bề mặt tỏa nhiệt và tạo ra N2 và HNO3, ở nhiệt độ thấp hơn khuyến khích sự phân hủy khối lượng lớn tỏa nhiệt và tạo ra N2O và H2O. Rất nhiều tạp chất có thể hoạt động như chất xúc tác, các tác nhân khác có thể bao gồm nhiên liệu kim loại giúp tăng cường năng lượng nhiệt được giải phóng trong quá trình phân hủy. Hiện tượng này được ứng dụng trong công thức thuốc nổ ANFO mang lại hiệu suất nổ tốt hơn ở mật độ khối cao hơn.

Qúa trình phân hủy AN có thể được biểu diễn dưới đây:

Ở 180oC: NH4NO3 = NH3 + HNO3

250oC: NH4NO3 = N2O + 2H2O

>300oC: NH4NO3 = 2N2 + 4H2O + O2

Trong điều kiện bị giam giữ, sự nổ AN diễn ra như sau:

4NH4NO3 = 2NO2 + 8H2O + 3N

3. Ứng dụng

Amoni nitrat là chất ôxi hóa mạnh, nitrat amôni tạo thành một hỗn hợp chất nổ khi kết hợp với nhiên liệu như hyđrô, thường là dầu diesel (dầu) hoặc kerosene. Tiêu biểu là vụ đánh bom khủng bố tại Thành phố Oklahoma của Mỹ vào sáng ngày 19/4/1995, do Timothy McVeigh thực hiện tại tòa nhà Liên bang Afred P. Murrah. Đây được coi là một trong những vụ khủng bố tồi tệ nhất nước Mỹ khiến 168 người chết, trong đó có 19 trẻ em và hơn 500 người bị thương.

Một phần tòa nhà Alfred P. Murrah ở thành phố Oklahoma, Mỹ, bị thổi bay trong vụ đánh bom năm 1995

Nitrat amoni cũng được sử dụng trong các loại thuốc nổ quân sự như bom phát quang  BLU-82B/C-130 được thả từ máy bay MC-130 và là một thành phần của vật liệu nổ amatol, làm từ hỗn hợp của TNT và NH4NO3. Các hỗn hợp sử dụng trong mục đích quân sự thường pha chế thêm gần 20% bột nhôm nữa để tăng sức công phá…

Tuy nhiên ngày nay, ứng dụng phổ biến nhất của amoni nitrat là để sản xuất phân bón, do nó chứa nhiều nitơ cần thiết cho cây trồng bởi cây cần nitơ để tạo ra các protein và được sản xuất công nghiệp với giá không quá đắt.

Phân bón Amoni nitrat

Amoni nitrat cũng được sử dụng trong các túi lạnh nhanh (instant cold pack). Trong ứng dụng này, nitrat amoni được trộn với nước trong một phản ứng thu nhiệt, với nhiệt lượng 26,2 kilojoule mỗi mole chất phản ứng. Các sản phẩm của các phản ứng nitrat amoni được ứng dụng trong các túi khí. Chất azit natri (NaN3) là hóa chất được sử dụng trong các túi khí và nó phân hủy tạo ra natri Na và nitơ N2.

2Na3N 6Na + N2

Nitrat amoni còn được ứng dụng trong việc xử lý các quặng titanium hay điều chế chất ôxít nitơ (N2O) và điều chế amoniac khan, một hóa chất thường được sử dụng trong việc sản xuất methamphetamine.

Amoni nitrat rất dễ nổ khi tiếp xúc với lửa và khi phát nổ, amoni nitrat có thể giải phóng các khí độc bao gồm oxit nitơ và khí amoniac.

Cũng vì nó rất dễ cháy nổ nên thế giới đã có các quy tắc nghiêm ngặt về cách lưu trữ ammonium nitrate một cách an toàn, trong đó yêu cầu tối thiểu nhất là vị trí lưu trữ cần phải được chống cháy triệt để và không thể có bất kỳ cống, ống hoặc các nguồn nào khác để ammonium nitrate có thể tiếp xúc, tích tụ, tạo ra nguy cơ nổ.

Tổng số đánh giá:

Xếp hạng: / 5 sao

Các khái niệm hoá học liên quan

Chất ưa nước

Chất ưa nước là những chất bị thu hút bởi phân tử nước và có khả năng tan trong nước. Chúng thường là các phân tử có cực, tích điện và có khả năng tạo thành liên kết hidro. Điều này làm cho các phân tử này tan không chỉ trong nước mà còn trong các dung môi phân cực khá

Xem chi tiết

Lipid

Các chất béo động vật (mỡ) và chất béo thực vật tự nhiên (Dầu) là các glixerit tức là este của glixerol và các axit béo. Cơ thể sinh vật gồm có ba thành phần cơ bản là protein, gluxit và lipit. Lipid (chất béo) là nguồn cung cấp năng lượng cho các cơ thể sống nhiều hơn cả protein và gluxit. Người ta chia lipit thành các nhóm như glixerit, sáp, photphatit, sterit và sterol hoặc có thể chia lipid thành 2 nhóm là mỡ và lipid (chất tương tự mỡ).

Xem chi tiết

Giấm

Giấm là chất lỏng có vị chua có thành phần chính là dung dịch axit axetic, có công thức hóa học giấm ăn là CH3COOH. Hay nói cách khác giấm ăn là dung dịch axit axetic có nồng độ từ 2-5%. Giấm được hình thành nhờ sự lên men của rượu etylic C2H5OH.

Xem chi tiết

Phân bón hóa học

Phân bón hóa học hay còn gọi là phân bón vô cơ. Phân hóa học là loại phân bón sản xuất từ hóa chất hoặc từ các khoáng chất của thiên nhiên. Đây là những hợp chất hóa học chứa các nguyên tố dinh dưỡng, được bón cho cây nhằm tăng năng suất cây trồng.

Xem chi tiết

Quặng Graphit được dùng làm phân bón

Những nghiên cứu ban đầu của công ty Công ty Acher Exploration tại Ôxtrâylia cho thấy các dưỡng chất vĩ mô cũng như các chất vi dinh dưỡng nằm trong loại graphit độc đáo nói trên có thể được giải phóng chậm trong các điều kiện đất ngâm nước và có thể lưu lại trong đất để cung cấp dần dần các chất vi dinh dưỡng trong thời gian dài, nhờ đó đảm bảo cây trồng sẽ nhận được chất dinh dưỡng trong các chu kỳ sinh trưởng khác nhau.

Xem chi tiết
Xem tất cả khái niệm hoá học